Friday, October 08, 2004

Thu Thuat Tin Hoc

Các phím gõ tắt Trong Windows
(08:27:00 17-12-02)
Các tổ hợp phím windows
- Mở menu Start: nhấn phím Windows
- Truy cập Taskbar với nút đầu tiên được chọn: Windows + Tab
- Mở hộp thoại System Properties: Winndows + Pause
- Mở Windows Explorer: Windows + E
- Thu nhỏ / phục hồi các cửa sổ: Windows + D
- Thu nhỏ tất cả các cửa sổ đang mở: Windows + M
- Hủy bỏ việc thu nhỏ các cửa sổ đang mở: Shift + Windows + M
- Mở hộp thoại Run: Windows + R
- Mở Find: All files: Windows + F
- Mở Find: Computer: Ctrl + Windows + F
Làm việc với Desktop, My Computer và Explorer:
- Mở phần trợ giúp chung: F1
- Đổi tên thư mục được chọn: F2
- Mở hộp thoại tìm file trong thư mục hiện hành: F3
- Cập nhật lại nội dung cửa sổ My Computer và Explorer: F5
- Xóa mục được chọn và đưa vào Rycycle Bin: Del (Delete)
- Xóa hẳn mục được chọn, không đưa vào Rycycle Bin: Shift + Del (Shift + Delete)
- Hiển thị menu ngữ cảnh của mục được chọn: Shift + F10
- Hiển thị hộp thoại Properties của mục được chọn: Alt + Enter
- Mở menu Start: Ctrl + Esc
- Chọn một mục từ menu Start: Ctrl + Esc, Ký tự đầu tiên (Nếu là phần trên của menu) hoặc Ký tự gạch chân (Nếu ở phần dưới của menu) thuộc tên mục được chọn.
- Đóng một chương trình đang bị treo: Ctrl + Alt + Del, Enter
Làm việc với Windows Explorer:
- Mở hộp thoại Goto Folder: Ctrl + G hoặc F4
- Di chuyển qua lại giữa 2 khung và hộp danh sách folder của cửa sổ Explorer: F6
- Mở folder cha của folder hiện hành: Backspace
- Chuyển đến file hoặc folder: Ký tự đầu của tên file hoặc folder tương ứng
- Mở rộng tất cả các nhánh nằm dưới folder hiện hành: Alt + * ( * nằm ở bàn phím số)
- Thu gọn tất cả các nhánh nằm dưới folder hiện hành: Alt + - (dấu - nằm ở bàn phím số)
- Mở rộng nhán hiện hành nếu có đang thu gọn, ngược lại chọn Subfolder đầu tiên: è
- Thu gọn nhánh hiện hành nếu có đang mở rộng, ngược lại chọn folder cha: ç
Làm việc với cửa sổ:
- Chuyển đổi giữa các cửa sổ tài liệu: Ctrl + F6
- Chuyển đổi giữa các cửa sổ tài liệu (theo chiều ngược lại): Ctrl + Shift + F6
- Thu nhỏ cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F9
- Phóng lớn cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F10
- Thu nhỏ tất cả các cửa sổ: Ctrl + Esc, Alt + M
- Thay đổi kích thước cửa sổ: Ctrl + F8, Phím mũi tên, Enter
- Phục hồi kích thước cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + F5
- Đóng cửa sổ tài liệu hiện hành: Ctrl + W
- Di chuyển cửa sổ: Ctrl + F7, Phím mũi tên, Enter
- Sao chép cửa sổ hiện hành vào vùng đệm: Alt + Print Screen
- Chép toàn bộ màn hình vào vùng đệm: Print Screen
- Chuyển đổi giữa các chương trình và folder đang mở: Alt + Tab
- Chuyển đổi giữa các chương trình và folder đang mở (theo chiều ngược lại): Alt + Shift + Tab
- Chuyển đổi giữa các chương trình đang chạy: Alt + Esc
- Chuyển đổi giữa các chương trình đang chạy (theo chiều ngược lại): Alt + Shoft + Esc
- Mở menu điều khiển của chương trình hoặc folder cửa sổ hiện hành: Alt + SpaceBar
- Mở menu điều khiển của tài liệu hiện hành trong một chương trình: Alt + -
- Đóng chương trình đang hoạt động: Alt + F4
Làm việc với hộp thoại:
- Mở folder cha của folder hiện hành một mức trong hộp thoại Open hay Save As: BackSpace
- Mở hộp danh sách, ví dụ hộp Look In hay Save In trong hộp thoại Open hay Save As (Nếu có nhiều hộp danh sách, trước tiên phải chọn hộp thích hợp): F4
- Cập nhật lại nội dung hộp thoại Open hay Save As: F5
- Di chuyển giữa các lựa chọn: Tab
- Di chuyển giữa các lựa chọn (theo chiều ngược lại): Shift + Tab
- Di chuyển giữa các thẻ (tab) trong hộp thoại có nhiều thẻ, chẳng hạn hộp thoại Display Properties của Control Panel (Settings \ Control Panel): Ctrl + Tab
- Di chuyển giữa các thẻ theo chiều ngược lại: Ctrl + Shift + Tab
- Di chuyển trong một danh sách: Phím mũi tên
- Chọn hoặc bỏ một ô kiểm (check box) đã được đánh dấu: SpaceBar
- Chuyển đến một mục trong hộp danh sách thả xuống: Ký tự đầu tiên của tên mục
- Chọn một mục; chọn hay bỏ chọn một ô kiểm: Alt + Ký tự gạch dưới thuộc tên mục hoặc tên ô kiểm
- Mở hộp danh sách thả xuống đang được chọn: Alt + ê
- Đóng hộp danh sách thả xuống đang được chọn: Esc
- Hủy bỏ lệnh đóng hộp thoại: Esc
Suu tam

----------------
Khôi phục nhanh dữ liệu bị mất
(01:45:00 23-12-02)
Trong một thế giới chưa thật hoàn thiện, cần phải hiểu được những nguyên nhân gây ra lỗi cho đĩa cứng của bạn và cách khắc phục chúng
Bộ phận nào đáng giá nhất trong máy tính của bạn? Đó không là CPU, đầu đọc CD-ROM, màn hình hay hay ổ đĩa, mà là dữ liệu và chương trình ghi trên đĩa. Khi đột nhiên dữ liệu nào đó biến mất hoặc không truy cập được nữa, người ta có cảm giác như đánh rơi một chiếc cốc pha lê quí giá. Nhưng ai cũng biết rằng đó chỉ là cảm giác thoáng qua vì khôi phục lại tập tin dễ hơn nhiều, với điều kiện là bạn có trong tay công cụ thích hợp và kiến thức cần thiết.
Cách tốt nhất để lấy lại những gì đã mất là thường xuyên sao lưu hệ thống. Chi phí cho hệ thống sao lưu là rất nhỏ so với dữ liệu quí giá, do đó bạn không nên tiếc tiền đầu tư cho ổ băng hoặc ổ Zip. Nhưng ngay cả khi không có bản lưu mới nhất, vẫn có thể khôi phục được tập tin, và đó là chủ đề của bài này.
Cách tổ chức trên đĩa.
Đơn vị nhớ cơ bản trên đĩa là cung (sector), thường với kích cỡ 512 byte, nhưng không nhất thiết phải như vậy. Nhiều đĩa RAM và thiết bị nhớ dùng sector cỡ 256 byte. Mỗi cung có số hiệu riêng, thuộc mặt (head) đĩa bào rãnh (từ trụ) nào. Ví dụ, đĩa mềm 3,5 inch có 2 mặt, 80 rãnh, 18 cung/rãnh và 512 byte/cung, do đó ghi được 1474560 (tức 1440 KB) đơn vị thông tin.
Quá trình chuẩn bị đĩa để có khả năng ghi được dữ liệu được gọi là định dạng mức thấp. Tất cả các ổ IDE, rất phổ biến hiện nay, nếu được định dạng sẵn tại nơi sản xuất ra chúng. Dùng phần mềm không thích hợp để làm điều đó có thể làm cho đĩa IDE hoặc EIDE (Enhanced IDE) không còn dùng được nữa.
Bước thứ hai phải làm với một đĩa mới là dùng trình FDISK.EXE của DOS để chia nội dung của nói thành các vùng luân lý gọi là các phân hoạch (partitions). Fdisk xử lý dữ liệu trong phần đĩa gọi là bảng phân hoạch hoặc là master boot record (MBR). Mỗi vùng DOS mà bạn tạo trở thành ổ luận lý riêng biệt kho boot ấy. Ví dụ, đĩa cứng có thể chia thành 3 ổ luận lý là C,D và E. Nếu bạn tạo các phân hoạch cho OS/2, Linux, Window NT hoặc các hệ điều hành khác (sử dụng phiên bản thích ứng của Fdisk), các vùng ”ngoại lai“ thưòng không nhìn thấy được khi bạn boot vào DOS hoặc Win95.
Thực hiện lệnh FORMAT.COM trong mỗi vùng phân hoạch là bước thứ 3 của việc chuẩn bị đĩa cứng. Format tạo boot record mang thông tin về các đặc tính của phân hoạch; 2 phiên bản của bảng FAT (File Allocation Table), vùng dùng để theo dõi các phân đĩa ấn định cho các tập tin, thư mực gốc mà từ đó tạo ra các tư mực con. Dùng lệnh Format IS sẽ là cho đĩa có thể boot được (đĩa hệ thống).
Các secter đầu tiên trên đĩa dùng cho mục đích hệ thống. Cung đầu tiên là bảng phân hoạch. Sau boot record là bảng FAT. Có 2 bảng FAT là để khi cần thiết có đĩa thay thế cho nhau. DOS không có tiện ích sao chép bảng FAT này sang bảng FAT kia, do đó với phần lớn chúng ta, bảng thứ 2 là dư thừa. Sau bảng FAT là thư mực gốc chứa từng đầu mực (entry) cho mỗi tập tin thuộc thư mục gốc và cho mỗi thư mục con mức 1.
Thư mục gốc bị hạn chế về dung lượng này phụ thuộc vào loại đĩa cụ thể. Đĩa mềm không có bảng phân hoạch, phần còn lại có cấu trúc như của đĩa cứng.
Thế giới của các liên cung
Phần dữ liệu của các đĩa là nơi người dùng quan tâm nhất. Nó chia thành các liên cung (cluster). Mỗi liên cung bao gồm một số lượng xác định các cung liên tiếp. Số cùng/cluster phụ thuộc vào dung lượng đĩa, bao giờ cũng là luỹ thừa của 2. Mỗi liên cung trên đĩa mềm thường chỉ gồm 1 sector tức 64 KB/cluster. Liên cung nhỏ sẽ tiết kiệm được nhiều bộ nhớ hơn vì liên cung cuối cùng của tập tin chỉ có ít phần nhớ dùng vô ích. Liên cung lớn hơn sẽ đảm bảo tốc độ truy xuất cao hơn.
Mỗi đầu mục trong bảng FAT đại diện cho 1 liên cung của vùng dữ liệu. FAT có thể dùng 12 hoặc 16 bit cho mỗi đầu thư mục. Mười hai bít đủ để ghi số từ 0 đến 4095, còn 16 bít tới 65535. Phần lớn đĩa mềm dùng cluster với 1 sector và bảng FAT 12 bít. Một số phiên bản OEM mới nhất của Win 95 có thể dùng FAT 32 bít để có được cluster nhỏ trên ổ đĩa cực lớn.
Khi DOS cấp phát bộ nhớ cho tập tin, hệ ghi số hiệu của liên cung đầu tiên vào đầu mục của tập tin. Sau đó sử dụng FAT để theo dõi các cluster bổ sung. Ví dụ, giả sử tập tin được cấp phát liên cung thứ 2, 4 và 5 trên đĩa. Đầu mục cho biết tập tin bắt đầu từ liên cung số 2. Dòng thứ 2 của bảng FAT cho thấytập tin tiếp tục ở liên cung 4. Dòng thứ 4 của FAT chỉ ra rằng tập tin còn có dữ liệu trong liên cung 5. Dòng thứ 5 của FAT còn có dấu hiệu cuối tập tin (EOF) báo rằng không có liên cung tiếp theo nào nữa (ta giả htiết rằng tập tin khác sử dụng liên cung 3).
Bảng FAT còn đánh dấu liên cung nào ”bị hỏng“, không còn tin cậy để cấp phát nữa.
Để xoá bỏ tập tin, DOS thay ký tự đầu tiên trong tên tập tin bằng ký tự đặc biệt, tiếp theo sửa bảng FAT để giải phóng các liên cung tương ứng cho tập tin khác. Phần còn laị của đầu mục không thay đổi và tồn tại trên đĩa cho đến khi tập tin mới ghi đè lên.
Hệ thống FAT khá hiệu quả với các đĩa mềm và điã cứng cỡ 10-20 MB, ngày nay không còn hữu hiệu cho đĩa cứng dung lượng cao nữa, do đó OS/2 và Windows NT sự dụng hệ thống tổ chức tập tin thích hợp hơn.
Giải quyết sự cố
Sự cố có thể xảy ra do virus, do không đóng tập tin hoặc hệ thống bị treo trước khi DOS hoàn tất cập nhất các thư mục và bảng FAT.
* Vấn đề 1: Bảng phân hoạch bị hỏng
Máy của bạn không thể boot được nữa do bảng phân hoạch hoặc MBR bị hỏng. Có thể khi cài đặt đĩa mới hoặc phân hoạch lại đĩa cứng bạn quên đánh dấu một vùng phân hoạch trên ổ C là ”active“. Nên xem trước trạng thái phân hoạch bằng lệnh FDISK/ STATUS. Trước đó pải boot bằng đĩa mềm. Dùng lệnh FDISK/MBR để tạo lại bảng phân hoạch.
Bạn có thể định dạng lại ổ C để tạo lại boot record hoặc thực hiện lệnh SYS C: tại dấu nhắc A:\> của DOS. Trình SYS.COM ghi lại boot record và sao chép một số tập tin hệ thống từ đĩa mềm lên ổ C.
Chú ý rằng để tạo đĩa mềm hệ thống (có khả năng boot được), cần lắp đĩa mới vào ổ A và định dạng nó bằng lệnh FORMAT A:/S. Tiếp theo chép FDISK.EXE, SYS.COM và các tiện chí khác từ thư mục \DOS hoặc, nếu bạn làm việc trong Win 95, từ \WINDOWS\COMMAND.
* Vấn đề 2: Mất các đơn vị cấp phát
Để tránh những rắc rối với các đầu mực và bảng FAT, nên chạy phần mềm quét đĩa của Microsoft là SCANDISK.EXE hoặc người anh em cũ kỹ hơn là CHKDSK.EXE. Nên làm công việc như vậy mỗi tuần một lần, ngay sau khi định dạng đĩa hoặc nén đĩa bằng DBLSPACE.EXE, bằng DRVSPACE.EXE hoặc trình thứ ba của Stac Electronics. Trình ScanDisk có từ DOS6.2x và trong Win95, hãy dùng nó thay cho Chkdsd. Phần lớn lỗi mà bạn thường gặp là ”lost allocations units“ hoặc ”lost chains“. Mất một số liên cung có thể do tắt máy giữa chừng, reboot lại máy khi máy treo hoặc rút đĩa mềm khi DOS đang làm việc với chính đĩa này.
Chkdsd khắc phục những lối như vậy bằng cách tạo ra các tập tin FILEnnnn. CHK trong thư mục gốc, chứa các chuỗi liên cung bị mất của tập tin. Scan Disk cũng làm như vậy, nhưng còn có thêm tính năng ”undo“. Nếu bạn thực hiện lệnh SCANDISK/UNDO A:, thông tin undo được ghi ra đĩa mềm sẽ được sử dụng để khôi phục lại trạng thái đĩa như trước khi ScanDisk sửa chữa. Tất nhiên, kể từ lần quét đĩa gần nhất bạn không được xoá, tạo mới, hay nén bất kỳ tập tin nào, vì như vậy bạn đã thay đổi bảng FAT, và thông tin ”undo“ không còn giá trị gì nữa.
Có thể dùng một trình soạn thảo, lệnh Type, tiện ích Debug để xem các tập tin*.CHK. Thuận lợi nhất là những gì đã mất ở dưới dạng văn bản, còn dạng nhị phân thì chẳng giúp ích gì nhiều.
* Vấn đề 3: Các tập tin chập chéo nhau
Hiện tượng chập chéo nhau (cross-linked files) nghĩa là khi hai tập tin, vì lý do nào đó, cùng chung chuỗi liên cung ổ cuối, ví dụ tập tin A dùng các liên cung 2, 3, 4, 5 và tập tin B nằm trên 6, 7, 4 và 5. Các liên cung 4, 5 cùng chung cả hai tập tin. Với những trường hợp như vậy, tốt nhất hãy khôi phục cả A lẫn B từ các bản lưu. Nếu không được như vậy, bằng Chkdsd hãy theo các bước sau:
1. Khôi phục tất cả các đơn vị cấp phát bị mất, sau đó thoát khỏi Chkdsk.
2. Tạo các bản sao của A và B với các tên mới không còn chấp chéo nhau nữa những chứa những dữ liệu giống nhau.
3. Xoá bỏ A và B để làm sạch bảng FAT.
4. Dùng ứng dụng tạo ta các tập tin kể trên để xem nội dung trong các bản sao của chúng. Những gì không cần thiết (thừa), mạnh dạn xoá bỏ.
5. Xem từng tập tin FILEnnnn. CHK trong thư mực gốc để tìm những gì bị mất của các tập tin hỏng, Dùng ứng dụng để cắt/dán với mục đích tu chỉnh lại các bản sao của A và B cho thích hợp.
6. Đổi tên các bản sao của A và B về các tên ban đầu. Loại bỏ các tập tin *.CHK không còn cần thiết nữa.
ScanDisk mạnh hơn vì thực hiện các bước 2, 3 cho bạn. Rõ ràng là khôi phục các tập tin văn bản thì dễ dành hơn so với tập tin ảnh, âm thanh hoặc các chương trình.
* Vấn đề 4: Lỗi cấp phát
Nếu chuỗi FAT dài hơn hoặc ngắn hơn chỉ định trong đầu thư mục của tập tin, bạn gặp lỗi ”allocation error“. Cả Chkdsk lẫn ScanDisk đều thay đổi kích cỡ tập tin cho thích hợp. Nếu chuỗi FAT quá dài, tập tin sẽ chứa dữ liệu không cần thiết, còn trường hợp quá ngắn,phần cuối bị gạt mất. Bạn có thể tìm thấy những gì bị mất trong các liên cung chưa cấp phát cho tập tin nào cả.
* Vấn đề 5: Các đơn vị cấp phát bị hỏng
Đó là lỗi ”Invalid allocation units“, xảy ra khỏi một phần bảng FAT chứa số 0 (liên cung chưa cấp phát), số 1 (liên cung không tồn tại) hoặc dấu hiệu liên cung hỏng. Hai tiện ích trên đều đánh dấu liên cung cuối cùng còn tốt chứa dấu hiệu kết thúc file.
* Vấn đề 6: Cung hệ thống hỏng
Cả Chkdsk và ScanDisk đều phát hiện vấn đề xảy ra với vùng hệ thống trên đĩa. Chkdsk đơn giản là đưa ra thông báo “ Bad Sector in FAT” hoặc “ Probably non-DOS disk”. ScanDisk còn chỉ chính xác lỗi ở đâu. Cả hai trình đầu không chừa vùng hệ thống. Bạn có thể dùng SYS.COM để ghi lại vùng hệ thống hoặc định dạng lại đĩa (trước đó cần sao chép dữ liệu ra đĩa mềm).
Những công cụ cao cấp
Chkdsk và ScanDisk rất thích hợp để tìm lại những liên cung bị mất, trong đó ScanDisk ít gây sự cố hơn do được thử rất kỹ càng và có khả năng tạo tập tin undo. Có một số tiện ích còn tiên tiến hơn nữa. Trước hết phải kể đến Norton Utilities (79USD). Với Disk Editor trong bộ phần mềm này, bạn có thể xem và chỉnh lý từng sector một theo nhiều cách. Bạn có thể tự sửa bảng FAT để thí nghiệm và thử khả năng của các trình khôi phục thứ ba.
Dùng SpinRite (89USD) của Gibson Research Corp để qúet đĩa cũng là một ý tưởng hay.
Cuối cùng, giải pháp tốt nhất để bảo đảm an toàn cho dữ liệu của bạn lại không ở các tiện ích siêu việc mà chỉ ở chế độ sao lưu thường xuyên một cách nghiêm chỉnh. Trong khi đồng nghiệp phải vắt óc trước những thông báo đưa ra bởi Chkdsk, ScanDisk hoặc các tiện ích khác, bạn chỉ mất vài giây để sao chép lại những gì bị hỏng hay thất lạc
Theo DosWorld
Đây là một vài kỹ năng sử dụng phím tắt trong khi dùng IE...

Bạn có thể dùng các tổ hợp phím sau để thực hiện các thao tác nhanh trong Internet Explorer:
Giữ phím Alt kết hợp bấm phím mũi tên trái (<-): bấm nút Back
Giữ phím Alt kết hợp bấm phím mũi tên phải (->): bấm nút Forward
Giữ phím Ctrl kết hợp bấm phím B: Mở cửa sổ Bookmarks/Favorites
Giữ phím Ctrl kết hợp bấm phím D: Tạo Bookmarks/Favorites mới
Giữ phím Ctrl kết hợp bấm phím F: Tương đương bấm Edit -> Find
Giữ phím Ctrl kết hợp bấm phím H: Mở cửa sổ History
Giữ phím Ctrl kết hợp bấm phím N: Mở cửa sổ trình duyệt mới
Bấm phím Esc tương đương với bấm nút Stop trên thanh công cụ của trình duyệt.
Nguồn: Tuổi Trẻ
Win XP được xây dựng trên nền tảng của Windows NT và 2000 vốn có độ ổn định cao hơn nhiều so với Win9x. Ngoài ra, XP cũng sử dụng hệ thống file gống như của NT và 2000. Điều này khiến cho XP trở thành một hệ điều hành (HĐH) đa người dùng thực sự cho PC gia đình. Vì XP là một HĐH còn khá mới mẻ, cho nên bài viết này cố gắng đưa ra một số thủ thuật nhằm giúp người dùng thông thường tận dụng một cách tốt nhất khả năng của HĐH này.
Thủ thuật 1: Hãy dùng hệ thống file NTFS
Thật may mắn, XP hỗ trợ cả 2 hệ thống file FAT32 (được Win9x hỗ trợ) và NTFS (được NT và 2000 hỗ trợ). Điều này cho phép người dùng lựa chọn hệ thống file phù hợp với yêu cầu công việc của mình. Tuy nhiên NTFS cung cấp những mức độ bảo mật tốt hơn nhiều so với FAT32. Với FAT32 trong Win9x, ai cũng có thể xâm nhập vào PC của bạn và làm bất cứ điều gì mà họ thích. Với NTFS, bạn có quyền cho hay không cho ai đó sử dụng máy tính của bạn. Và người được phép sử dụng PC của bạn cũng chỉ có thể hoạt động trong khuôn khổ mà bạn cho phép.
Để kiểm tra xem bạn đang dùng NTFS hay FAT32, chọn ổ đĩa cứng trong My Computer, nhấn chuột phải và chọn Properties. Nếu đang dùng FAT và muốn chuyển sang dùng NTFS, bạn hãy thực hiện việc chuyển đổi này từ dấu nhắc DOS trong XP mà không phải lo ngại gì về việc mất mát dữ liệu. Để chuyển đổi sang NTFS từ FAT, bạn chọn Start – All Programs - Accessories, and Command Prompt. Tại dấu nhắc, bạn gõ convert x: /fs:ntfs (x là tên ổ đĩa mà bạn chọn). Cũng cần lưu ý rằng, một khi đã chuyển sang NTFS, bạn sẽ không thể quay trở lại dùng FAT trừ phi bạn định dạng (format) lại ổ đĩa
Thủ thuật 2: Tạo tài khoản hạn chế
Có 2 loại tài khoản người dùng (user account) trong XP: tài khoản người quản trị hệ thống (administrator account) và tài khoản người dùng hạn chế (limited account). Sau khi cài đặt XP thành công, bạn nên ngay lập tức thiết đặt một tài khoản người dùng hạn chế để phục vụ cho các công việc hàng ngày nếu như bạn đang dùng hệ thống file NTFS.
Để tạo một tài khoản người dùng hạn chế, bạn phải đăng nhập vào tài khoản của người quản trị hệ thống (theo ngầm định XP tạo ra tài khoản này khi bạn cài đặt HĐH). Sau đó, chọn Start - Control Panel - User Accounts - Create A New Account. Đặt tên cho tài khoản mới này rồi nhấn Next. Trong hộp thoại mới, chọn Limited Account. Mỗi khi muốn tạo mới hay thay đổi thuộc tính của các tài khoản, bạn nhất quyết phải đăng nhập vào tài khoản người quản trị hệ thống.
Thủ thuật 3: Sử dụng mật khẩu
Sử dụng mật khẩu (password) là một hình thức bảo mật thông tin truyền thống và hiệu quả. Mặc dù Win9x có cung cấp cho bạn chế độ bảo vệ bằng mật khẩu, nhưng đối với đa số người dùng thì tính năng này không có một chút hiệu quả nào. Còn XP làm cho việc sử dụng mật khẩu thể hiện đúng ý nghĩa của nó.
Trong XP, việc bảo vệ các tài khoản bằng mật khẩu không có tính bắt buộc. Tuy nhiên, theo tôi, bạn nên sử dụng mật khẩu với các tài khoản, ít nhất là với tài khoản người quản trị hệ thống.
Theo ngầm định, XP coi tất cả các tài khoản người dùng tạo ra khi cài đặt HĐH là tài khoản người quản trị hệ thống và không yêu cầu mật khẩu khi người dùng đăng nhập vào hệ thống. Để thay đổi điều này, bạn cần phải tạo mật khẩu mới. Trong User Accounts, chọn Change An Account và nhấn vào tài khoản bạn muốn dùng mật khẩu để bảo vệ. Trong tài khoản này, chọn Create A Password và gõ mật khẩu 2 lần. Để việc sử dụng mật khẩu có hiệu quả hơn, theo chúng tôi bạn không nên dùng chế độ “gợi nhắc mật khẩu” (password hint) vì người dùng khác có thể căn cứ vào những gì bạn ghi ở đây để đoán ra mật khẩu của bạn. Sau khi nhấn nút Create Password, XP sẽ hỏi xem bạn có muốn để cho người dùng khác tiếp cận các thư mục và các file trong tài khoản của bạn hay không. Nếu muốn riêng tư hơn nữa, bạn hãy trả lời “KHÔNG” với câu hỏi nêu trên.
Thủ thuật 4: Dựng tường lửa
Khác với các phiên bản trước, XP có kèm theo một chương trình tường lửa (Firewall) để bảo vệ bạn an toàn khi duyệt Web. Bức tường lửa này dường như là đáng tin cậy, bởi vì cho tới nay chưa thấy có người sử dụng nào phàn nàn về tính năng mới mẻ này trong XP
Có lẽ bạn đã từng tự hỏi: làm sao biết được bức tường đó đã được dựng lên chưa? Để kểm tra, bạn vào Control Panel - nhấn chuột phải vào biểu tượng Network Connections - chọn Properties - nhãn Advanced, và chọn Internet Connection Firewall.
Thủ thuật 5: Chạy chương trình bằng quyền của người quản trị hệ thống
XP có chế độ Fast User Switching, chế độ cho phép người dùng chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản mà không phải thoát ra và đóng các ứng dụng đang chạy. Để chế độ này hoạt động, bạn mở User Accounts và chọn Change The Way Users Log On Or Off. Trong hộp thoại mới bạn chọn cả Use The Welcome Screen và Use Fast User Switching.
Để chuyển đổi qua lại giữa các tài khoản người dùng, bạn chọn Start – Log Off - Switch User. Để chạy một chương trình với quyền của người quản trị hệ thống, bạn nhấn chuột phải vào biểu tượng của chương trình rồi chọn Run As. Trong hộp thoại mới, chọn tên của tài khoản quản trị hệ thống và nhập mật khẩu, và chương trình sẽ khởi động ngay lập tức. Bạn cũng cần lưu ý, có một số chương trình đòi hỏi bạn nhấn thêm phím Shift cùng với chuột phải.
Thủ thuật 6: Cá nhân hóa thực đơn Start
So với các phiên bản trước, XP cung cấp nhiều khả năng thay đổi thực đơn Start hơn. Bạn có thể thêm, bớt hay thay đổi theo ý mình bất cứ thành phần nào của thực đơn Start. Để làm điều này, bạn nhấn chuột phải vào thực đơn Start và chọn Properties. Trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties, nhấn nút Customize. Tại đây, bạn có thể lựa chọn dùng biểu tượng to hay nhỏ, cho phép hiển thị bao nhiêu chương trình vừa chạy, và đưa chương trình duyệt Web cùng chương trình e-mail ưa thích vào thực đơn Start. Trong nhãn Advanced bạn có thể chọn cách mà những thành phần như My Documents, My Computer, và Control Panel vv... xuất hiện cũng như nhiều tuỳ chọn khác mà bạn không thể có được ở các phiên bản Windows trước đây.
Nếu như không thích cách mà thực đơn Start của XP xuất hiện, bạn có thể quay trở về với thực đơn truyền thống bằng cách chọn Classic Start Menu trong hộp thoại Task Bar and Start Menu Properties.
Thủ thuật 7: Sử dụng tính năng khôi phục hệ thống
Giống như Windows ME, XP cũng cung cấp khả năng khôi phục hệ thống về điểm trước một sự kiện này đó (cài đặt mới phần mềm hoặc xung đột hệ thống...) Để tạo một mốc khôi phục, bạn mở (All) Programs trong thực đơn Start, chọn Accessories - System Tools - System Restore. Trong cửa sổ System Restore, nhấn Create A Restore Point, nhấn Next, nhập tên cho điểm khôi phục hệ thống, rồi nhấn Create. Để đưa hệ thống trở lại một thời điểm nào đó, trong cửa sổ System Restore, chọn Restore My Computer To An Earlier Time, rồi chọn một điểm phù hợp để tiến hành khôi phục hệ thống. Sau khi nhấn Next 2 lần, hệ thống của bạn sẽ bắt dầu khôi phục về thời điểm bạn chọn. Quá trình này chỉ hoàn tất sau khi HĐH tự khởi động lại.
Thủ thuật 8: Không cần chỉnh lại đồng hồ hệ thống
Người dùng PC thường phàn nàn về việc đồng hồ hệ thống chạy sai sau một khoảng thời gian nào đó, và phải chỉnh sửa lại thời gian cho đúng một cách thủ công. Điều này sẽ không thể xảy ra trong XP nếu bạn thực hiện các bước sau để đồng bộ hoá đồng hồ hệ thống với đồng hộ quốc tế (với điều kiện bạn có kết nối Internet).
Bạn đăng nhập vào tài khoản quản trị hệ thống, kết nối Internet, rồi nhấn đúp vào biểu tượng đồng hồ trên thanh công cụ. Chọn nhãn Internet Time trong hộp thoại Date and Time Properties. Đánh dấu kiểm vào Automatically Synchronize With An Internet Time Server và chọn một đồng hồ thích hợp từ thực đơn thả xuống, rồi nhấn nút Update Now.
Thủ thuật 9: Kiểm tra tính tương thích
Không phải chương trình nào cũng chạy tốt trong XP. Nếu không rõ về tính tương thích, bạn hãy thử dùng Program Compatibility Wizard. Chọn Start - All Programs – Accessories - Program Compatibility Wizard.
XP cung cấp cho bạn nhiều khả năng để thử tính tương thích của chương trình. Nếu chương chình chạy tốt ở một điều kiện nào đó, XP sẽ gợi ý bạn dùng các thiết đặt phù hợp nhất để chạy chương trình. Tất nhiên, XP cũng cho bạn biết liệu chương trình có hoạt động cùng HĐH không.
Thủ thuật 10: Tạo đĩa mềm khởi động cho Win XP
Tạo một đĩa khởi động trong Win9x không hề khó khăn chút nào. Nhưng Microsoft đã loại bỏ tính năng này trong Win 2000 và XP. Bạn cần có một đĩa mềm khởi động để khôi phục lại hệ thống trong các trường hợp như hỏng rãnh khởi động (boot sector), hỏng bảng ghi khởi động chính (Master Boot Record), bị nhiễm virus, mất hoặc hỏng file NTLDR, NTDETECT.COM, hoặc để khởi động trong trường hợp XP không thể khởi động được cả ở chế độ Safe Mode.
Để tạo đĩa mềm khởi động trong XP (và Win2000), bạn làm như sau: Chuẩn bị một đĩa mềm đã được định dạng. Chuyển tới ổ đĩa C:\, chép các file sau boot.ini, ntldr, ntdetect.com, bootsect.dos, NTBOOTDD.SYS (nếu có) sang đĩa mềm.
Thủ thuật 11: Thiết đặt lại bộ nhớ ảo
Cho dù bạn có bao nhiêu RAM đi nữa thì Windows vẫn tạo ra thêm bộ nhớ ảo (paging files) trên đĩa cứng để tối ưu hóa hoạt động của hệ thống. Tối ưu hóa các file paging bằng cách cố định dung lượng sẽ làm cho tốc độ tìm dữ liệu trên đĩa cứng nhanh hơn, HĐH cũng không phải đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, giảm thiểu quá trình phân mảnh, và tiết kiệm được đĩa cứng.
Để biết bạn cần dành bao nhiên megabyte cho bộ nhớ ảo, bạn hãy chạy một số chương trình thường dùng, rồi mở Task Manager (nhấn Ctrl – Alt – Del), nhấn vào nhãn Performance, và xem số megabyte ở khung Commit Charge là bao nhiêu. Đây là số lượng bộ nhớ mà hệ thống của bạn cần lúc này. Dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu sẽ là số megabyte này cộng thêm với 32 MB (nhưng nhiều người cộng thêm với 64 MB). Thiết đặt hợp lý nhất là dung lượng tối thiểu và tối đa của bộ nhớ ảo phải bằng nhau để XP không đặt lại dung lượng bộ nhớ này nữa.
Để thực hiện việc đặt lại dung lượng bộ nhớ ảo, bạn nhấn chuột phải vào My Computer, chọn Properties – nhãn Advanced - nhấn vào Settings của khung Performance - chọn Advanced trong hộp thoại Performance Options. Bạn nhấn tiếp vào nút Change - chọn ổ đĩa thích hợp - nhập dung lượng bộ nhớ ảo tối thiểu và tối đa, rồi nhất Set. Bạn lặp lại các bước nêu trên với các ổ đĩa
còn lại và các thay đổi sẽ có hiệu lực sau khi hệ thống khới động lại.
Thủ thuật 12: Sử dụng System Configuration Utility
Nếu bạn không muốn một chương trình nào đó khởi động cùng với XP, muốn tăng tốc độ khởi động của HĐH, muốn loại bỏ những dịch vụ hệ thống không cần thiết, muốn tìm hiểu những trục trặc của hệ thống... và nhiều điều khác, thì bạn hãy sử dụng tiện ích System Configuration.
Nếu đã sử dụng Win 98 và khai thác tính năng System Configuration Utility thì bạn có thể băn khoăn tại sao XP lại không có tính năng tuyệt vời này. Câu trả lời là XP có nhưng Microsoft không để tiện ích này trong System Information vì không muốn người sử dụng can thiệp quá sâu vào hệ thống.
Muốn khởi động System Configuration Utility, bạn chọn Start – Run – gõ “mscomfig” hoặc chọn Start - Help and Support - chọn Use Tools to view your computer information and diagnose problems trong cửa sổ mới. - dưới hộp Tools, chọn System Configuration Utility.
Thủ thuật 13: Sử dụng từ điển thuật ngữ của Windows
Nếu bạn không hiểu bản chất một thuật ngữ chuyên ngành nào đó, và bạn không tìm thấy hoặc không thỏa mãn với giải thích của các từ điển khác, thì từ điển thuật ngữ của XP (Windows Glossary) có thể làm bạn hài lòng.
Để sử dụng từ điển, bạn chọn Start – Help and Support – nhấn vào bất kỳ một chủ đề nào dưới Pick A Help Topic – Windows Glossary - gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search. Bạn cũng có thể chọn Start – Help and Support – gõ thuật ngữ cần được giải thích vào hộp Search và XP sẽ liệt kê một số thành phần liên quan tới thuật ngữ đó, bao gồm cả từ điển (Glossary).
Thủ thuật 14: Loại bỏ MSN MESSENGER
Rất nhiều người sử dụng XP không dùng và cũng không thích dịch vụ MSN Messenger. Rất tiếc Microsoft lại không nghĩ vậy, và thậm chí còn không cung cấp cách gỡ cài đặt chương trình này, Tuy nhiên, vẫn có cách để không phải khó chịu với MSN Messenger. Bạn làm như sau: Tìm tới file SYSOC.INF trong thư mục Windows\INF (chú ý: cả file và thư mục đều ở chế độ Hidden). Mở file này bằng Notepad, tìm tới dòng msmsgs=msgrocm.dll,OcEntry,msmsgs.inf,hide,7 và xóa chữ “hide” đi. Lưu file và khởi động lại PC, rồi tìm tới Control Panels - Add and Remove Programs – Add/Remove Windows Components. Lúc này tùy chọn cho phép gỡ cài đặt MSN Messenger đã xuất hiện.
Nếu cách trên hơi rắc rối và đang sử dụng bản XP Professional, thì bạn hãy làm theo cách sau: chọn Start – Run – gõ GPEDIT.MSC để mở Group Policy - chọn Computer Configuration - Administrative Templates - Windows Components - Windows Messenger. Tại đây, bạn có thể ngăn dịch vụ này hoạt động hoặc lựa chọn cho phép nó hoạt động theo yêu cầu của bạn. Theo cách này, bạn cần lưu ý, mặc dù dịch vụ đã bị vô hiệu hóa, nhưng một số chương trình khác của Microsoft (Outlook, Outlook Express) vẫn có thể khiến dịch vụ hoạt động.
Thủ thuật 15: Tăng tốc cho XP
Mở Registry Start – Run – gõ regedit và tìm tới khóa
HKEY_LOCAL_MACHINE\SOFTWARE\Microsoft\Windows\CurrentVersion\Explorer\RemoteComputer\NameSpace
Chọn nhánh {D6277990-4C6A-11CF-8D87-00AA0060F5BF} và xóa nó đi. Tuy nhiên, trước khi xóa nhánh này bạn nên sao lưu lại phòng trường hợp hệ thống có vấn đề. Để làm việc này, bạn nhấn chuột phải vào nhánh cần sao lưu, và chọn Copy Key Name rồi lưu vào một file văn bản.
Khóa trên đòi hỏi XP phải tìm kiếm tất cả các chương trình làm việc theo lịch (Scheduled Tasks). Điều này khiến cho tốc độ duyệt của XP bị chậm lại. Mặc dù thủ thuật trên nhằm tăng tốc độ duyệt cho các hệ thống chạy Win2000 và XP trong mạng LAN, nhưng nó cũng cải thiện tốc độ duyệt một các bất ngờ cho Windows ngay trên máy trạm. Thay đổi này có tác dụng tức thì và chúng ta có thể cảm nhận được sự cải thiện tốc độ ngay lập tức.
Nguồn: I-today



0 Comments:

Post a Comment

<< Home